PHÁP HỘI VƯỜN XOÀI: Hành trang tư tưởng (III)

III

Tuệ Sỹ

 

III. HÀNH TRANG TƯ TƯỞNG

 

 

Trong quốc độ và quốc giới như vậy, hình thái như thế nào để có thể nói là thanh tịnh trang nghiêm, và làm thế nào để thành tựu hình thái ấy? Có ba yếu tố cần thiết: Thứ nhất, cảnh vực, bao gồm không gian và thời gian để kiến thiết quốc độ ấy. Thứ hai, trình độ nhận thức để quan sát các giá trị giả và thực của thực tại để kiến thiết quốc độ chân thực chứ không phải vọng tưởng điên đảo. Thứ ba, một căn bản giáo nghĩa, hay những nguyên lý để tiến hành mà không sợ bị lệch hướng tạo nên một thế giới dị dạng. Trong thuật ngữ triết học Phật giáo, ba yếu tố đó được gọi là cảnh - trí- giáo.

 

Gia Tường Đại sư khi viết Tịnh Danh huyền luận13 đã xoay quanh ba  phạm trù cảnh-trí-giáo trên hai phương diện bản môn hay bản thể luận  và tích môn hay hiện tượng luận để phân tích toàn bộ nội dung của  Duy-ma-cật sở thuyết. Bản thể luận và hiện tượng luận là hai từ Việt hiện đại được vaymượn từ nội hàm triết học phương Tây, nhưng không hoàn toàn hàm ngụ hết ý nghĩa của từ bản môn và tích môn. Ở đây, cảnh giới của chân lý thực chứng được nhận thức bởi trí vô phân biệt  của Phật  được gọi  là  bản môn. Cảnh giới thực chứng ấy được Phật mô tả lại cho các  hàng chúng sinh tùy theo trình độ bằng các phương tiện ngôn ngữ; đây gọi là tích môn. Tích là dấu vết, là lối mòn, để người sau lần bước khám phá ra hướng đi chính xác. Trong quá trình hành Bồ-tát đạo, cảnh giới được hướng đến chỉ căn cứ theo mô tả của Phật, còn chân thực tính của cảnh giới ấy thì bằng trình độ hiện tại của trí tuệ thì chưa thể hình dung nỗi. Cảnh giới thực chứng của Phật mà Bồ-tát hướng đến như là mục tiêu cứu cánh như vậy là bất khả tư nghị, vượt ngoài trình độ tư duy của các hàng chưa giác ngộ  như Phật. Đại sư nói:  “Do  cảnh (đối tượng) bất tư nghị khởi trí bất tư nghị. Bằng trí bất tư nghị, diễn giáo bất tư nghị, khiến cho hàng đệ tử tiếp thọ giáo hóa; nhân giáo mà thông lý; nhân lý mà phát trí.”14

 

Về quan hệ ba phạm trù này với bản-tích, Đại sư nói: “Cảnh làm trỗi dậy trí; đó là bản (môn) bất tư nghị. Giáo chính là tích (môn) bất tư nghị.”15

 

Trên phương diện bản thể luận, thể tính hay tự tính của Phật quốc vốn thanh tịnh. Ở đoạn sau trong phẩm Phật quốc này Phật thị hiện cho ngài Xá-lợi-phất thấy rõ thế giới Ta-bà vốn dĩ được quan niệm là một  thế giới đầy ô trược nguyên lai trong tự tính lại là thế giới thanh tịnh  như tất cả Phật quốc khác trong mười phương thế giới. Cảnh tương ứng với trí. Do đó, chỉ với trí tuệ thanh tịnh mới nhận thức được bản nguyên thanh tịnh của thế giới. Nhận thức như thế là trí bất tư nghị.

 

Cảnh và trí ấy siêu việt mọi tư duy, biện giải; vượt ngoài khả năng luận giải của ngôn ngữ. Nhưng bằng phương tiện khéo léo, đức Phật thuyết  pháp tùy theo  mọi căn cơ, nói được những điều không thể nói. Đó là phương pháp luận từ bản mà thiết lập tích. Rồi căn cứ vào giáo thuyết  ấy mà thực hành, các đệ tử dần dần thể nhập cảnh và trí bất tư nghị.  Đó là phương pháp luận đi từ tích đến bản. Đại sư Gia Tường nói: “Trước hết do cảnh phát trí, sau đó mới ứng theo vật mà ban phát giáo. Đó là từ bản dẫn xuống tích.16 Mượn giáo để thông lý. Đó là bằng tích mà chỉ vào bản.17

 

Nói cách khác, như được thị hiện trong bảo cái, có vô số Phật quốc khác nhau, thì cũng có vô số phương tiện thuyết giáo và vô số phương tiện  hành đạo khác nhau. Do vậy, khi Bồ-tát hành đạo trong một Phật quốc cá biệt với đối tượng thành tựu là các loại chúng sinh cá biệt, thế thì Bồ-tát cũng y trên một giáo pháp cá biệt thích ứng. Đó là hành trang tư tưởng của Bồ-tát, cần chuẩn bị đủ để lên đường đi về Phật quốc.

 

Phân tích ý nghĩa loạt bài tụng mà Bảo Tích đọc lên để tán thán Phật chúng ta sẽ có thể tìm thấy những gì là hành trang tư tưởng cho Bồ-tát hành đạo, để làm thanh tịnh quốc độ và thành tựu sự thuần thục của chúng sinh.

 

Một cách tổng quát, nội dung loạt bài tụng tán Phật của Bảo Tích là sự triển khai cặp tương đối Phật quốc và Phật thân. Như đã thấy,  khi luận giải thế giới, các nhà luận sư Phật học cổ đại phân tích thế giới thành hai loại, hữu tình thế gian và khí thế gian, tức thế giới sinh vật và thế giới tự nhiên. Ở đây, trong sự phát triển của tư tưởng Đại thừa, hay trong tư tưởng Bồ-tát đạo, khái niệm về Phật quốc cũng bao gồm hai phạm trù như vậy. Trong đề cương của Gia Tường Đại sư, đó là cặp tương đối cảnh và trí.

 

Trong thời kỳ đầu, các luận sư A-tỳ-đàm luận giải Phật thân với hai phạm trù là sắc thân và pháp thân. Sắc thân là bản thân do cha mẹ  sinh  ra, chịu tác động của quy luật vật lý. Pháp thân là bản thân có được sau khi giác ngộ.

 

Trong phẩm “Phương tiện,” bằng cách giả bệnh, Duy-ma-cật thuyết pháp cho các cư sỹ, đề cao Pháp thân của Phật: “Phật thân chính là Pháp thân, sinh ra từ vô lượng công đức trí tuệ, từ giới, định, tuệ, giải thoát và giải  thoát tri kiến…” Đoạn khác, khi nghe ngài A-nan nói Phật đang bệnh, Duy-ma-cật nói với ngài A-nan: “Thân của Như lai là Pháp thân, không phải thân do tư dục. Phật là đấng Thế tôn, vượt ngoài tam giới. Thân Phật là vô lậu, vì các lậu đã bị dứt sạch. Thân Phật là vô vi, vì không thuộc khái niệm. Bản thân như vậy làm sao có bệnh?”

 

Giải thích quan hệ Phật thân và Phật độ, Khuy Cơ minh giải: Quốc độ Phật có ba, 1. Pháp tính độ, trú xứ của Pháp thân, là lý thể của Chân  như;  tức thế giới chân lý mà tự thân Phật chứng  nhập.  2. Thọ  dụng  độ,  thế  giới của  Báo  thân,  thọ hưởng quả báo của vô số công đức  được tích lũy; thế giới trang nghiêm thanh tịnh mà tự thân Phật cảm nghiệm. 3. Biến hóa độ, thế giới của Hóa thân Phật, tịnh hay uế không  nhất

định; thế giới Phật xuất hiện để giáo hóa chúng sinh.18

 

Trong tông Thiên thai, Phật thân và Phật quốc hay Phật độ được luận giải bằng bốn phạm trù: 1. Phàm thánh đồng cư độ, thế giới vừa tịnh vừa nhiễm, ở đó Thánh nhân và phàm phu cùng sống  chung. 2. Phương tiện Thánh cư độ, thế giới chỉ tồn tại các Thánh  nhân. Cũng gọi là Hữu dư phương tiện nhân độ, thế giới hữu dư cho các Thánh giả tuy đã vượt khỏi phần đoạn sinh tử nhưng còn tàn dư là biến dịch sinh tử chưa được vượt thoát. 3. Thật báo trang nghiêm độ,  thế giới do quả báo chân thực từ nhân tu hành chân thật. Cũng gọi là “thật báo vô chướng ngại”, vì sắc tâm không còn bị chướng ngại. Cũng gọi là “quả báo thuần pháp thân cư”, là trú xứ của Pháp thân Bồ-tát. 4. Thường tịch quang độ, thế giới của các bậc Diệu giác. Quốc độ thứ  nhất  và thứ hai là thế giới của Ứng thân Phật. Quốc độ thứ ba, vừa Ứng thân, vừa Báo thân.Quốc độ thứ tư duy chỉ thuộc về Pháp thân Phật.19

 

Khái niệm Phật thân trong loạt bài tụng của Bảo Tích có tính cách cá  biệt, không theo các khuynh hướng giải thích trong các trường Phật học  khác. Phật thân ở đây được nhận thức trên cơ sở nghiệp. Nghĩa là, tùy theo bản chất và mục tiêu hành động của Bồ-tát mà Phật thân được  nhận thức tương ứng.

 

Bài tụng thứ nhất tán thán Phật thân mà ngài Khuy Cơ phân tích thành sáu điểm tịnh gồm trong ba nghiệp: con mắt tịnh, ý lạc tịnh, định tịnh, bỉ  ngạn tịnh, nghiệp tịnh và danh xưng tịnh.20   Bài tụng nói:

 

Con kính đảnh lễ Ngài,

Vị dẫn đạo chúng sinh bằng con đường tịch tĩnh. Mắt trong vắt, dài rộng như sen xanh;

Tâm tịnh, đã vượt các thiền định; Lâu dài tích chứa nghiệp tịnh, Danh xưng không thể lường.

 

Trong bài tụng thứ hai, Phật thân và Phật quốc được nhận thức như một chỉnh thể thống nhất, mà Phật thị hiện cho thấy trong bảo cái.

 

Các bài tụng tiếp theo tán thán riêng biệt Pháp thân. Nếu phân tích  theo phương pháp luận của Gia Tường, thì Pháp thân ở đây gồm hai phương diện, bản (bản thể) và tích (hiện tượng): Pháp thân như là hiện thân của thể tính chân lý, và Pháp thân tương ứng với các loại chúng  sinh sai biệt. Tùy theo cơ cảm của mỗi hạng chúng sinh, và tùy theo trình độ sai biệt của Thánh Hiền, của Bồ-tát, Phật và giáo pháp của Phật được nhận thức và lãnh hội không đồng nhất.

 

Mặc dù thể tính của các pháp vốn siêu việt tư duy, siêu việt ngôn ngữ, nhưng do đã thể nhập pháp tính, đạt được sự tự tại đối với các pháp, nên Phật có thể phân tích, giải thuyết các pháp và pháp tướng một cách  chính xác; dù vậy, đệ nhất nghĩa tức Chân tính tuyệt đối vẫn không vì thế mà bị rối loạn, dao động. Pháp mà Phật diễn giải không phải là hữu,  cũng không phải là vô; tất cả sinh khởi do nhân duyên. Phần đầu bài tụng thứ năm nói:

 

Không nói pháp hữu, cũng không phi hiện hữu; Bởi do nhân duyên các pháp sanh.

Vô ngã, không tạo tác, không người thọ báo. Nhưng nghiệp thiện ác không hề mất.

 

Bằng bản chất của giáo pháp như thế, Phật vận chuyển bánh xe Chánh pháp trong cả đại thiên thế giới. Khởi từ đó, Tam bảo xuất hiện ở thế gian làm nơi nương tựa cho chúng sinh. Các bài tụng 12-14 nói:

 

Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp; Chúng sinh tùy loại đều hiểu được; Đều nói Thế tôn cùng tiếng của mình; Ấy do thần lực pháp bất cộng.

Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp; Chúng sinh mỗi mỗi theo chỗ hiểu, Đều được thọ hành, đại lợi ích;

Ấy do thần lực pháp bất cộng.

Phật bằng một âm diễn thuyết Pháp; Có kẻ nghe sợ, có kẻ vui,

Có kẻ chán bỏ, kẻ hết nghi;

Ấy do thần lực pháp bất cộng.

 

Mối quan hệ của Phật thân và Phật độ như đã thuật cũng có thể được nhận thức theo một khía cạnh khác; khía cạnh thực dụng. Với thể tính mầu nhiệm của Pháp mà Ngài chứng đắc dước gốc Bồ-đề, Phật đã  thành  tựu phẩm tính tự lợi. Bằng phương tiện thuyết giáo vi diệu, Phật đã thành tựu các phẩm tính lợi tha. Bồ-tát khi hành đạo cũng thế, vì mục đích giác ngộ của chính mình mà cũng vì sự an lạc của mọi loài.

 

Cuối cùng, Bảo Tích đọc lời kính lễ Phật:

 

Cúi lạy đấng Mười lực, Đại tinh tấn; Cúi lạy đấng đã đạt vô sở úy;

Đảnh lễ bậc trụ pháp Bất cộng;

Đảnh lễ Đại đạo sư của tất cả; Đảnh lễ đấng dứt mọi trói buộc; Đảnh lễ đấng đến bờ bên kia;

             Đảnh lễ đấng cứu độ thế gian;

             Đảnh lễ đấng thoát vòng sinh tử.

 

 

13 T38n1780.

 

14 T38n1780, tr. 853b3

 

15 T38n1780. tr. 853b5.

 

16 Dĩ bản thùy tích 以本垂跡. T38n1780, tr. 853b7.

 

17 Dĩ tích hiển bản 以跡顯本. ibid.

 

18 Vô Cấu Xưng kinh sớ (VCS), T38n1782, tr. 995b6.

 

 

19 Trạm Nhiên, Duy-ma kinh lược sớ, T38n1778, tr. 564b01. Về nguồn gốc kinh điển của bốn độ, đoạn sau (T38n1778, tr. 565a15), Trạm Nhiên đặt nghi vấn: ý

 

 nghĩa bốn độ chỉ có thể tìm thấy rải rác, chứ không thấy đề chung trong một đoạn văn. Rồi Trạm Nhiên giải thích: Ngay trong phần trả lời cho Bảo Tích

 

 trong Kinh này cũng đã cho thấy hết ý nghĩa của cả bốn độ.

 

20 T38n1782, tr. 20a2.

 

 

Chia sẻ: facebooktwittergoogle
Các bài viết khác