Sống vì người

song vi nguoi

 

Kính dâng Bác Tâm Thành Phạm Đăng Siêu

 

 

 

Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Bác Siêu, vâng bác Siêu! Cái tên gọi thân thương ấy các giới Phật tử và dân chúng Huế không một ai là không biết.

Riêng tôi, mỗi lần nghĩ đến bác là trước mắt hiện ra hình ảnh một người đàn ông gầy gò với gương mặt hiền lành, với đôi mắt sáng và chiếc miệng gần như lúc nào cũng cười với mọi người. Y phục giản dị nhưng nghiêm túc trong nếp lễ nghi dân tộc với chiếc áo dài bằng vải lương đen đã bạc màu theo những chuyến đi bất kể nắng mưa, chiếc quần trắng cũng ngả màu, xe đạp cà khổ, thế là quá đầy đủ cho chân dung của một người mang hạnh nguyện xả thân vì đạo, vì đời, một gạch nối giữa hai đầu cho – nhận, một người vì mọi người. Một sứ giả của tình thương và của niềm vui …

Bác là bạn thân của thầy mẹ tôi từ hồi nào tôi không rõ, phần tôi chỉ thật sự thân gần với bác vào những năm đầu của thập niên 60 (thuộc thế kỷ XX). Số là thời gian này thầy mẹ tôi phát nguyện cúng dầu lửa, hương và gạo cho các chùa hẻo lánh ở miền quê và bác Siêu nhận làm khâu chuyển tiếp. Mỗi tháng 3 lần bác đến nhà chúng tôi nhận hàng mà tôi là người giao, thế là bác cháu tỉ tê trò chuyện. Tôi khâm phục và mê hạnh nguyện vì đạo pháp, vì chúng sanh của bác. Bác thường kể chuyện về bản thân, về những niềm vui, về những trở ngại bất hợp lý trên bước đường hành thiện, và lúc nào bác cũng kết luận rất lạc quan, tự tin và tự tại:

- Phải cố vượt mọi cản ngăn con ạ, những cản ngăn vô lý là những thử thách, hãy biết ơn những người phá phách ta bởi chính họ là những thiện hữu tri thức của chúng ta, nhờ họ mà ta hành được hạnh nhẫn nhục.

Hai bác cháu thân thiết được 6 năm thì tôi theo chồng xa Huế.

Năm 1973, tôi đưa đứa con trai đầu lòng lên 5 tuổi về hầu kỵ, tôi được gặp lại bác sau một buổi kỳ siêu tại gia đình. Hai bác cháu ôm nhau mừng rỡ, tôi khoe:

- Bác ơi! Con trai con thuộc hết bài “Sám nguyện” và tôi biểu cháu đứng trước mặt bác đọc rõ từng câu đến hết bài. Bác vui mừng bảo:

- Hai mẹ con cùng giỏi lắm, làm mẹ là phải hướng dẫn con cái đến với đạo pháp càng sớm càng tốt, “cô mẹ trẻ” giỏi lắm!

Đó là lần gặp bác sau cùng của tôi, trong buổi chia tay bác có hẹn là sắp tới nếu thuận duyên bác sẽ có một chuyến đi Quy Nhơn và sẽ đến nhà tôi ở mấy ngày. Lời hẹn chẳng bao giờ thực hiện bởi bao biến cố riêng chung …

Thời gian sau 1975 tôi không về Huế nhưng tôi được một bác ở khuôn hội Phú Lâu nhà ở đường Bà Triệu thường vào Quy Nhơn và tôi biết tin tức của bác Siêu qua bác đạo hữu này.

Biết rằng chẳng ai thoát khỏi luật sinh tử, song làm sao tránh được ngậm ngùi thương tiếc khi nghe tin bác ra đi.

Vì địa lý ngăn cách, thêm bao vướng bận của đời sống phàm phu, hoặc vì hết duyên gặp gỡ nên tôi không có mặt trong ngày tang lễ bác. Vì thế tôi nguyện: với nghề nghiệp mình tôi sẽ viết về bác với tất cả lòng ngưỡng mộ, đồng thời muốn đưa việc làm ý nghĩa của bác đến với chúng ta và các thế hệ mai sau – với ước vọng sẽ có người nối tiếp việc làm của bác, ngỏ hầu trên đền bốn ơn nặng, dưới đem lại niềm vui và no ấm cho bao kẻ bất hạnh xung quanh.

Với tâm niệm ấy, lần về Huế vừa rồi (2/1997) tôi cố tìm một ít tư liệu về bác để được đầy đủ cho một bài viết. Chưa thực hiện được cuộc tìm kiếm thì tôi gặp chú Tuấn đang hành “Điệu” ở chùa Từ Hiếu giới thiệu hai vị đạo hữu mà theo lời chú Tuấn là cùng nhóm HƯỚNG THIỆN với bác Siêu. Tôi đã gặp hai anh chị ấy và tha thiết trình bày nguyện vọng của mình, … Hai vị ấy hứa sẽ cho tôi đầy đủ tư liệu, tôi mừng rỡ và gác chuyện về các khuôn hội như Tịnh Bình, Phú Lâu, An Lạc để gặp các bạn chí cốt của bác Siêu. Về Quy Nhơn tôi mòn mỏi đợi chờ bởi hai vị ấy hứa sẽ gởi vào nhà tôi bằng đường bưu điện. Tôi có gởi thư về đường Nhật Lệ Huế, song không được hồi âm.

 

Bác Siêu thương kính.

Bác ơi! Dù không có tư liệu con vẫn viết về bác với tất cả sự tôn vinh bởi con trộm nghĩ cuộc đời của bác, hành trạng của bác là tấm gương sáng mà lớp lớp hậu duệ cần thiết phải làm theo, bác là niềm tự hào chung của hàng cư sĩ Phật tử mọi thế hệ mà không là sở hữu của riêng ai… (!)

Đây chưa phải là một bài viết đúng như con hằng ấp ủ mà chỉ là sự khởi đầu cho một niềm nhớ thương vọng tưởng, sẽ có một bài viết mang tính sử liệu đầy đủ khi con đã có đủ tư liệu thật rõ ràng.

Một nén tâm hương với tất cả lòng ngưỡng vọng kính dâng  lên anh linh bác, trong mùa Tự tứ báo ân để thể hiện chút lòng hiếu kính  của con – một Phật tử đã và mãi mãi xem bác là một vị Bồ Tát giữa cõi Diêm Phù Đề này.

Quy Nhơn mùa báo hiếu Phật lịch 2541

Cư sĩ Trừng Hòa Ninh Giang Thu Cúc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ: facebooktwittergoogle