Vũ trụ bản hữu bản thể luận

vu tru

 

Định Hy biên soạn

Thích Đức Trí dịch

Lời đầu của luận giả

 

 

Không gian vô biên khắp cả mười phương là vũ, thời gian vô cùng tận quá khứ, hiện tại và vị lai là trụ. Hữu vi, vô vi, sắc tâm, nhiễm tịnh, tất cả vạn pháp đều gọi là vạn hữu. Tất cả vạn pháp từ xưa cho tới nay tịch diệt vắng lặng, vốn không sanh diệt, tồn tại không lay chuyển, cùng một thể với hư không trong mọi thời, cùng một chân như pháp tánh, cái đó gọi là bản thể. Vạn hữu từ tướng trạng mà nói; bản thể từ phương diện lý tánh mà nói, cũng gọi là thật tướng của chư pháp.

 

 

(1) Chúng ta ai cũng sẵn có tánh giác ngộ vắng lặng viên dung, linh hoạt thông suốt, chẳng mê chẳng lầm, vô danh vô tướng. Mọi người đều có đủ thể tính bản giác, cho đến đại thể vũ trụ vạn hữu cũng vậy. Do mê chân tìm cái vọng (chân là chân tướng, chân lý, chân như, chân không, chân thật, chân tế, chân giác, chân tính, chân trí, thánh trí, thật trí, thật tế, thật tướng, thật tánh, pháp tánh, pháp giới, bản


 

thể, nhất thể, nhất như, nhất vị, nhất tướng, không tướng, Niết-bàn, bình đẳng, cứu cánh). Vọng là tướng hư dối, là bị ô nhiễm bởi sáu trần. Từ đó chịu chìm đắm trong vòng sanh tử.

 

Đức Thế Tôn vì muốn chúng sanh ngộ nhập trí tuệ chân thật nên thị hiện trong thế giới Ta bà, lao nhọc bốn mươi chín năm tuyên dương Chánh pháp, khai mở quyền thật, tùy căn cơ trình độ mà giáo hóa. Chính là muốn chúng sanh lìa xa huyễn hóa, dẹp bỏ cấu nhiễm, diệt hết phiền não, phá hết vọng chấp, giác ngộ tự tâm, trở về bản thể thanh tịnh vốn có. Ba tạng kinh điển, năm thời giáo pháp[1], chính là phương tiện dạy đạo. Từ các phương tiện quyền xảo, khiến người giải hết mê hoặc và trói buộc, dần dần ngộ được bản thể tự tánh.

 

 

Các tông Tánh, Tướng, Đài, Hiền, Mật, Luật; giúp hết thảy mọi người có trình độ sai biệt đều tiếp nhận pháp môn tu học, chứng ngộ thể tính bất động. Tổ Đạt Ma dạy: Người liễu ngộ tại tâm, tức là chặt cành, bỏ lá để tìm tận gốc rễ để đốn ngộ thực thể chân không. Phương tiện tu tập thường có thay đổi, phân lập các nhánh, chính là tùy bệnh cho thuốc, vì cứu cánh mà lập phương tiện, khiến đốn ngộ thật thể chân như. Chí hướng Tịnh độ là gì? Chính là mượn

 

1.   Ngũ thời thuyết  giáo: Thiên Thai tông có lập thuyết Ngũ thì giáo, tức giáo pháp của Phật được phân giảng thành năm thời kỳ: 1. Thời kỳ Hoa nghiêm 2. Thời kỳ Lộc uyển 3.Thời kỳ Phương đẳng 4.Thời kỳ Bát nhã 5.Thời kỳ Pháp hoa và Niết-bàn.


 

tăng thượng duyên cõi Tịnh độ, đó là điều kiện ưu việt, nương nhờ đại nguyện của Phật để khỏi bị thối tâm giác ngộ, tạo thuận lợi cho việc tiến tu đạo nghiệp, từ đó mà chứng bản thể thực tướng. Các bậc thánh giả mười phương trong quá khứ đạt nhất thiết trí phải trải qua vô lượng kiếp tu hành thoát khổ để cầu quả vị giác ngộ. Đó là khả năng chứng ngộ bản thể của vạn pháp. Sở dĩ các bậc thánh giả thành đại giác, tự tại giải thoát có vô số diệu dụng là do chứng ngộ bản thể. Hàng phàm phu chúng ta bị nghiệp lực trói buộc trầm luân trong ngũ thú là do mê bản thể. Cho nên bản luận này thuyết minh vấn đề mê và ngộ là dựa trên nguyên tắc căn bản giáo pháp xưa nay.

 

(2) Tham cứu cùng tận nhân sanh vũ trụ, vô tận không gian, thời gian và suốt vô lượng thế giới tương dung tương nhiếp lẫn nhau, cho đến tướng chân thật của của bản thể vạn hữu là chẳng phải cái chỗ thấy biết do suy luận và do ước tính hoặc do thế trí biện thông của con người. Đó chẳng phải chỗ đạt đến của ý thức, tư tưởng, biến kế hay phân biệt, cho đến dứt sạch vọng niệm, danh ngôn, phan duyên, xa rời đối đãi, hí luận và năng sở; chẳng phải thấy, nghe, hay, biết; chẳng phải tham sân si; ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Duy chỉ có trí Bát nhã thậm thâm mới chiếu soi đến được, duy chỉ có trí giác ngộ mới có thể tương ưng. Cái trí như như mới khế hợp với chân lý như như; lý trí nhất như, thể dụng không hai. Nghĩa lý không cùng tận, quán chiếu vô cùng tận, xa lìa ngôn ngữ và khái niệm; trí viên minh tỏ rạng, tướng vốn không hai, thông suốt không


 

dời đổi. Phân biệt là thuộc về thức, không phân biệt thuộc về trí. Theo thức là nhiễm, theo trí là tịnh. Nếu khởi kiến giải tức lạc vào ý thức, không thấy tướng chân thật. Thực tướng các pháp, một thể chân như. Thể của vạn pháp là một, phàm thánh không khác, tính như như xa rời ý niệm cảnh giới, không danh tự, không ngôn ngữ diễn đạt, chỉ giả danh gọi là đệ nhất nghĩa đế. Luận Đại trí độ nói: “Đệ nhất nghĩa không là chư pháp thật tướng”. Tất cả vạn pháp, không có pháp nào mà không quy về chân như. Như là thể tính bất động, cũng gọi là chư pháp thật tướng, nhất chân pháp giới, bản thể chân như. Tất cả tướng vạn pháp sắc và tâm là hư vọng huyễn hóa, đều là tướng dụng khởi từ bản thể. Tức là từ đại quang minh tạng, một niệm đầu khởi động, tâm thức phân biệt mà hiện huyễn ảnh. Từ đó theo sự tướng rồi mê lầm bản thể, giữ cảnh thì xa rời chân như. Nhiễm trước tức là chướng ngại, hợp với trần và quay lưng với giác ngộ. Nếu rõ biết như vậy, không nhiễm không chấp trước, không y cứ, không trụ tướng, dõng mãnh hồi hướng Niết-bàn, tự ngộ nhập bản lai diện mục, siêu xuất phàm tục, hướng nhập cảnh giới vô ngại tự tại, vĩnh viễn thoát ly sanh tử, gọi là xuất thế. Nếu không rõ điều này, bị cảnh mê hoặc, bị tướng trói buộc. Một khi hành động đã chiêu cảm quả báo thì bị nghiệp lực giam cầm, theo dòng sanh tử nhập vào biển khổ, đó gọi là vô minh. Cái gọi là nhất niệm tâm sanh tức thành tam giới, nhất niệm tâm diệt tức ra khỏi tam giới vậy.

 

 

Lại nữa, từ giả nhập không, bất thọ nhất trần, tùy thuận


 

pháp tánh, rời xa sanh tử, gọi là đại trí. Dùng trí vô lậu không trụ Niết-bàn, từ chân xuất tục, phổ nhập thế giới, không xả một pháp, tùy thuận chúng sanh mà mở đường cứu độ, đó gọi là đại bi. Bi trí song hành, tự lợi lợi tha, giác hạnh viên mãn, phước huệ vẹn toàn, tức thành tựu vô thượng chánh giác. Đây chính là chân lý mà chúng ta nên tích cực truy cầu. Quả thực, chân lý này thâm sâu không hạn lượng, bậc giác ngộ trọn vẹn mới thấu triệt. Bản luận này muốn đề cập đến nguyên tắc căn bản của chân lý phổ thông. Đó là định luật xưa nay bất biến, tận hư không thế giới, không thay đổi không sai khác.

 

(3) Phật pháp toàn vẹn, vi diệu rộng lớn, xa rời kiến chấp và vọng tình, thiết lập trên phương diện bản tâm thanh tịnh, thống nhiếp tất cả vạn pháp thế gian và xuất thế gian. Cái gọi là cội nguồn của vạn pháp là bản thể của vũ trụ, bao gồm tứ thánh lục phàm, pháp tịnh, pháp lạc, tự tâm vốn đầy đủ, nhân quả, y báo, chánh báo, thế gian và xuất thế gian; tất cả nương vào đó mà thành lập. Thiện ác tội phước đều do tâm tạo, cảnh giới lục trần do thức biến hiện. Tất cả các pháp tùy nhân duyên khởi. Y trí mà thành tựu vô vi pháp trang nghiêm thanh tịnh và các bậc thánh hiền sai biệt, tức là pháp thanh tịnh Bồ-đề Niết-bàn giải thoát tự tại.

 

 

Y thức mà thành lập tất cả pháp hữu vi thế gian và các cảnh giới phàm phu, tức là pháp nhiễm từ vô minh phiền não và nghiệp lực sanh tử. Cho nên từ cái gốc vạn pháp


 

trong vũ trụ mà luận giải nghĩa lý. Thanh tịnh tâm tức là đệ nhất nghĩa đế, cho đến toàn bộ trung tâm tư tưởng của thánh giáo. Ly nhiễm hoàn tịnh là thấu triệt bản tâm và tối thượng thừa pháp, cũng gọi là Bát nhã trí, là đạo lý tuyệt đối. Tất cả pháp môn các tông Hiển và Mật đều nhập đệ nhất nghĩa đế, đều lấy kiến tánh làm chỗ quy nhất. Xa rời đệ nhất nghĩa thì chẳng phải cứu cánh. Đây là phạm vi tự chứng trí tuệ của bậc thánh cùng với tha lực nhiếp trì của đại nguyện, đầy đủ đạo lý. Phương pháp ở đây là tóm tắt nhưng luận giải rõ ràng để nhận thức, thâu tóm điểm then chốt của kinh giáo và pháp ngữ các bậc hiền triết xưa nay trích ra ý nghĩa chủ đạo trình bày nguyên tắc phổ thông để rõ nghĩa tinh yếu của Phật pháp. Chương đầu tiên nói về nghĩa lý Bát nhã, đây là nói về nguyên lý để trình bày yếu nghĩa kiến tánh. Cũng là có ý mượn công thức này hiển bày triết lý thâm uyên, xa rời ngôn ngữ và khái niệm, vì đó là lập trường chung của các tông phái Phật giáo. Nghĩa lý dung thông, từ đó mới quy về một nghĩa, thâm nhập một nghĩa mà thâu nhiếp nhiều nghĩa. Chương cuối cùng thuyết minh sự xác chứng về phương tiện sai biệt, nó vô cùng thỏa đáng với vấn đề tu học nhanh chóng thành tựu của pháp môn Tịnh độ. Bát nhã làm tông chỉ, thực hành tại pháp tu niệm Di Đà, Tịnh độ là con đường tắt của sự tu hành hướng đến cốt tủy của Phật pháp. Không luận là pháp môn tham thiền, quán chiếu, trì tụng đều từ hữu tướng nhập vô tướng, từ phương tiện quyền xảo để nhập thực tế chân như. Từ nguyên tắc căn bản đó, tận hư không biến khắp pháp giới, từ kiếp xa xưa cho đến vị lai, cho đến


 

tất cả quốc độ không hai không khác. Phương tiện tuy có tám vạn bốn ngàn pháp môn, xuyên suốt quy về không hai, nếu khế nhập đệ nhất nghĩa đế tức nhập vào dòng thánh giác ngộ, như cùng lỗ mũi chỉ để hít thở. Sanh tử tức Niết- bàn như hoa đốm giữa hư không,ngôn ngữ văn tự, phương tiện quyền xảo trở thành hí luận trói buộc,như tùy bệnh cho thuốc mà thôi.

 

(4) Bản thể vạn hữu tức là thật tướng các pháp, tức là đệ nhất nghĩa đế. Thế nào là đệ nhất nghĩa đế? Có thể từ tất cả sự thể nghiệm của nghĩa lý sau:

 

 

1. Từ vũ trụ vạn hữu gồm tất cả hiện tượng, thể nghiệm vạn pháp từ xưa đến nay thường hằng bất biến, đương thể vốn nó như vậy, tướng của nó chân thật xa rời ngôn ngữ.

 

 

2. Triệt ngộ tánh không tịch của các pháp vốn do duyên khởi, không lập tại hai bên và không có khái niệm giữa của hai bên, chỉ nhập tại đệ nhất nghĩa chân thật.

 

 

3. Từ trong bản chất sanh diệt thể nghiệm pháp tánh vốn rời xa ngôn ngữ, vắng lặng không sanh diệt, thường trụ bất động.

 

 

4. Từ trong biển vọng tưởng sai biệt muôn trùng quán thể tính chân thật của nó vốn như như không biến đổi, không sai khác mà quy về đại không vốn không khả đắc, vắng lặng và sáng suốt.


 

5. Liễu đạt cụ thể sự thật của vọng tưởng huyễn hóa mà tùy thuận pháp tánh hiện ra các tướng sanh diệt.

 

6. Diệt tất cả tướng đối đãi sai biệt, không theo tướng chuyển, không theo pháp chuyển, an trụ vào tánh không của tất cả pháp mà thâm nhập trọn vẹn, triệt ngộ tánh bình đẳng nhất như.

 

 

7. Hiển bày tính chất không tự tánh của huyễn pháp, an trú trong chánh kiến, khế nhập tính chân thật không sanh diệt của tất cả pháp, ngộ chân tâm thanh tịnh.

 

 

8. Vô nhiễm vô trước, dứt hẳn hí luận, vọng niệm không sanh, tâm ngã sở diệt, không còn trước sau, không rơi vào sai biệt, không mê mờ vọng động, trú trong vi diệu tịch tịnh, thấu triệt bản thể bất động.

 

 

9. Sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền.

 

10. Biết tất cả pháp là chân như tuyệt đối, các pháp bản tính không, các pháp thường vắng lặng, chân như tuyệt đối bình đẳng không sai biệt, xa rời tất cả tâm duyên vào ngôn ngữ văn tự, ngộ nhập pháp tính bình đẳng vô sai biệt, mới có chân thật thể nghiệm tính không của tất cả pháp, nhập vào tướng chân thật như như.

 

 

11. Từ tất cả pháp vốn không có chỗ sanh, không chút nương tựa,cắt bỏ vạn duyên, triệt để quét sạch và buông xả


 

hoàn toàn.Từ trong thể không rốt ráo ấy kiến thọ khởi lên, vắng bặt thất thức đại, pháp thân hiện tiền.(Kiến thọ là gì? Là chân lý tuyệt đối; là trí tuệ chân thật, đệ nhất nghĩa, pháp vô sanh, trong thể vắng lặng đầy đủ diệu dụng biết khắp mọi sự. Pháp ấy sanh vô lượng diệu nghĩa; tất cả trí tuệ diệu dụng thần thông giải thoát tự tại. Cảnh giới công phu cao nhất, thâm sâu không lường; trên biết dưới, dưới không thể biết trên. Đây là những công đức diệu dụng của bậc thánh nhân đại giác, thâm sâu như đáy biển, nói không bao giờ hết. Có nghĩa là khi chưa giác ngộ nói ra đều là hư dối, là tác dụng của tâm sanh diệt; như người ăn bánh vẽ, như giấy trắng và mực đen vốn không tương ưng. Cần phải tự bản thân thể nghiệm chứng ngộ, cái thấy của sự chứng đắc mới là chân thật. Nếu còn tồn tại niệm chứng đắc cũng là đại sai lầm! Nếu không sống lại từ trạng thái tuyệt xứ, không buông xả hết vọng tình là không thể nhập vào cảnh giới này. Viên giáo đốn ngộ khó gặp, một khi mất thân này, hối cải không kịp. Đời này không lo độ thân này thì còn đợi đến kiếp nào mới làm được, để rồi trôi dạt trong biển sống chết vô cùng bi thương; sống chết là việc lớn, vô thường qua mau, chớ để thời gian quý báu trôi qua trong oan uổng!)

 

12. Tức là thoát căn trần, cảnh thức đều triệt tiêu, còn duy nhất tính nhất như các pháp

 

 

14. Tức là vô trụ mà trụ, Niết-bàn thường trụ tức là niệm trước không sanh niệm sau không diệt.


 

15. Tức là tự giác ngộ thánh trí, là minh tâm kiến tánh, tức là phát Bồ-đề vô thượng, phát tâm vô sở đắc, tức là khai phát cái bản nhiên vốn thanh tịnh của tự tánh, tức là khai mở trí tuệ quang minh vốn tròn đầy xưa nay.

 

16. Đó chính là nhập pháp môn không hai, nhập vào biển giác tánh, nhập vào nhất chân pháp giới, nhập đại tổng trì, nhập thắng nghĩa đế, nhập thật tế, nhập pháp tánh, nhập giác tánh, nhập pháp thân, nhập chân tế, nhập Niết-bàn, nhập đạo tràng, tọa đạo tràng, tây lai ý; tất cả chỉ cùng một nghĩa vậy.

 

 

17. Lại nữa, pháp tánh chân như, tự tánh thường trụ, biển giác ngộ thanh tịnh, biển tánh giác tịch diệt, chân tâm vô trụ, diệu tâm viên giác, chân như thanh tịnh, thật tế chân như, đại quang minh tạng, đại viên cảnh trí, diệu giác minh thể, thể đại giác viên thường, bản địa thanh quang, bản lai diện mục, bản thể tự tánh, bản thể bất động, tất cả đều cùng một thể mà khác nhau tên gọi vậy. Nên biết thể giác ngộ viên minh là đức tánh đầy đủ vốn có của chúng ta. Tất cả kinh luận Hiển-Mật-Tánh-Tướng đều là hiển bày trong giác thể này vậy.

 

 

(5) Phật pháp tức là tâm pháp, có nghĩa rộng lớn, cũng có nghĩa tóm gọn. Nghĩa rộng lớn tức hết thảy giáo lý trong đại tạng kinh điển, giảng giải không thể cùng tận; nghĩa tóm gọn là trong bậc siêu xuất nhất thừa giáo dùng vài câu pháp ngữ trực khế với nguồn tâm, nhiếp vô lượng diệu


 

nghĩa. Kinh Pháp hoa có dạy: “Trong mười phương thế giới, chỉ có nhất Phật thừa, không hai cũng không ba, trừ Phật phương tiện nói, nhưng đó chỉ là mượn danh tự để giáo hóa chúng sanh”. Kinh Niết-bàn có dạy: “Chỉ có một Phật thừa, phương tiện nói có hai”. Trên phương diện bản thể, chỉ có một sự thật này. Cho nên Phật pháp quý trọng thực chứng, thực tiễn, hạnh giải tương ưng. Nếu như cầu học rộng, lấy văn tự là trợ duyên, mới chỉ là kiến giải về sự chứng ngộ, nếu phương diện công phu tu tập chứng ngộ bị thiếu sót, chỉ thành học giả mà chẳng phải là hành giả; chỉ là người đọc sách chẳng phải người tu trì. Kinh Pháp cú dạy: “Đọc ngàn bài kinh, không bằng thực hành một câu kinh”. Bệnh kiến giải càng nặng thì càng xa đạo, lạc vào thế trí biện thông, lâm vào trì trệ, càng nhiều chướng ngại. Mạng căn không đoạn, tức thuộc kiến tri, dừng ở văn tự là cửa dẫn vào cảnh bế tắc. Ngôn ngữ văn tự, phương tiện ban ra là để dẫn đến giải ngộ, nhân giải mà khởi hành, hành khởi thì giải tuyệt. Cho nên nói: “Phật thuyết tất cả pháp, chỉ trừ tất cả tâm, nếu ta không có tất cả tâm, làm sao nói đến tất cả pháp”. Ngôn ngữ văn tự chỉ là thiết lập tùy chỗ mà nói, tích tập phân biệt, dụng cụ để phá chấp, tùy bệnh cho thuốc, chính là dùng ngón tay chỉ mặt trăng, là thuyền đưa người qua sông. Ngón tay chỉ mặt trăng tuy có nhiều sai khác, nhưng mặt trăng chỉ có một. Quan trọng là thấy rõ mặt trăng, không nên tìm cầu ngón tay dài ngắn, thô tế, trắng đen. Ngàn kinh vạn luận đều khiến người phá trừ chấp trước thân tâm, rõ biết nguồn tâm, thấy rõ bản tánh, chỉ quy về bản thể chân không. Từ xưa đến nay Phật


 

Tổ đều khuyên người y cứ nghĩa lý không y cứ ngôn ngữ. Dùng ngôn ngữ mà hiển bày nghĩa lý, dần dần chứng ngộ, đắc nghĩa thì ngôn từ đều phải đoạn tuyệt, đốn ngộ nhất tâm, đó là pháp giải thoát vậy.

 

(6) Hỏi nghĩa lý cao tột bản thể vạn pháp là vì lý do gì? Có lợi ích gì? Xin nói cho biết.

 

 

Trả lời: Vì mục đích sau cùng là muốn báo ân Phật và ân sư trưởng, muốn báo ân cha mẹ và ân chúng sanh, muốn độ thoát sầu khổ tất cả chúng sanh, muốn phá hết vô minh để thoát ly sanh tử, phát khởi tâm nhất thừa vô thượng Bồ-đề. Tự giác tức là xa rời tâm ô nhiễm, trở về tâm thanh tịnh vốn có xưa nay, đoạn trừ mê hoặc, chứng ngộ chân thật bản tính vốn có. Từ tất cả pháp vốn không có chỗ sanh, liễu triệt pháp chân thật chính là bản thể chân không, nhổ sạch cái gốc sanh tử, đắc nhất thiết chủng trí.[1] Tinh thần lợi tha là thương xót chúng sanh trong năm đường ác đang chịu cảnh trầm luân, lưu chuyển sanh tử. Mình chưa giác ngộ, nhưng nguyện độ người chưa được độ, rung tiếng chuông cảnh tỉnh, diễn xướng thật tướng, tán dương nhất Phật thừa, truyền bá tinh hoa chánh pháp cứu độ chúng sanh cho đến tương lai. Phổ nguyện chúng sanh trong vô tận thế giới hướng về đạo giác ngộ, chứng ngộ bản thể bất động, rời xa mê lầm, cắt đứt dòng sông sanh tử, thoát ly khổ não, nhập vào trí tuệ chân thật rốt ráo bình đẳng, được

 

 

1.  Nhất thiết chủng trí là trí của Phật.


 

sự an lạc trọn vẹn. Năng lực tuy chưa đầy đủ, thường vận dụng tâm này, niệm niệm tương tục không gián đoạn, dựa vào nguyện lực đại bi và đại trí để hướng đến giác ngộ cứu cánh, đó là chứng đắc quả vị tối thượng viên mãn vậy.

 

Giá trị lợi ích hiện tại mà nói, Phật pháp vô cùng rộng lớn, tùy theo khả năng tiếp nhận mà thọ dụng thì không hạn định. Thông đạt tam thế nhân quả, bao cảnh thăng trầm trong năm đường; vì tránh khỏi đọa tam đồ ác đạo mà hành pháp nhân thiên như ngũ giới và thập thiện. Quán chiếu tường tận vạn pháp sanh diệt biến đổi, vốn vô thường vô ngã; mục đích để xuất ly tam giới mà tu đạo của bậc hiền thánh giải thoát, Niết-bàn. Vấn đề tự lợi thì phải nhận biết huyễn để đạt bổn nguyên, ngộ pháp vô vi; hiểu đời là khổ ách, không tranh hơn thua với đời. Khiêm tốn mà quán xét rõ ràng minh bạch, đối người tiếp vật với lòng cởi mở, giữ gìn phẩm đức, nỗ lực tích lũy phước đức, ăn chay là thuận đạo lý từ bi; không sát hại thì thiện thần thủ hộ, trời người lễ kính, tai họa tiêu trừ, tăng trưởng phúc đức, thiểu dục tri túc, phòng bệnh lâu dài. An lạc trong thiền định tăng trưởng trí tuệ, tâm lượng rộng rãi, hoài bão to lớn, tu tâm dưỡng tánh, ung dung tự tại, trong không chỗ đắc, ngoài không tìm cầu, không bị cảnh trần trói buộc, không bị ngũ dục mê hoặc, chí nguyện cao xa, hướng đến giác ngộ. Phát triển tinh thần đó tức là tịnh hóa lòng người, tịnh hóa xã hội, tịnh hóa thế giới. Lợi người là để báo ân, xem mọi người là chính mình, xem chính mình là mọi người, mục đích là phục vụ con người quên mình. Nhiếp hóa kẻ ương


 

ngạnh, mở rộng phương tiện tu nhân tích đức, biết chỗ trở về, khai mở đạo lý nhân quả ba đời, khiến dừng cảnh luân chuyển trong lục đạo; lợi ích pháp Tam quy, ngũ giới, niệm Phật và phóng sanh; thường hành bố thí với tâm thanh tịnh, nhổ sạch gốc khổ, đem lại an vui. Phát triển tinh thần đó, tức là từ bi hết thảy muôn loài, mang đến lợi ích cho chúng sanh trong khắp cả tam giới. Tâm hạnh lợi mình lợi người như thế tức là kiến lập nhân sinh quan đúng theo đạo lý.

 

Lấy bản thể thực tướng các pháp làm trung tâm, mọi người biết tu giới, định và tuệ để diệt tham sân si. Thông đạt đạo lý vô nhiễm, vô ngã, thường tu hạnh xả ly và hạnh nhẫn nhục, dẹp bỏ bản ngã và đối tượng của ngã, trong mọi hoạt động thường dưỡng đạo tâm là tùy thuận nhân duyên, không lìa xa tự tánh. Không lãng phí thời gian, tâm không buông thả, luật nghi nghiêm chỉnh, niệm niệm định huệ, xả ly điều khó xả, làm điều khó làm thì tâm địa quang minh, bản tánh thông suốt. Nếu đem phổ cập tất cả xã hội mà nói, như thổi nguồn sinh lực vào hệ giáo dục tư tưởng siêu xuất thế tục, nêu cao phong thái thanh cao liêm khiết, đó chẳng phải là nền chính trị công minh, người dân hiền lương, quốc gia đổi mới, xã hội an ninh hay sao? Ở đây, thế gian hóa thanh lương, chuyển thành đại đồng, tôn sùng sự thành tựu tốt đẹp với lý tưởng thanh tịnh. Đó là thế giới thánh thiện của Phật giáo hóa nhân gian. Đạo lý trung, hiếu, nhân, ái, lễ nghĩa, liêm sỉ, cần kiệm, chất phác, thành thật, luôn tuân thủ mọi phép tắc đó ở đời không thiếu sót.


 

Nếu được như thế thì ngày nay làm sao mà có quá nhiều tệ nạn trong xã hội như: sát sanh, trộm cắp, tà hạnh và nói dối; bao cảnh lừa đảo, cướp đoạt, ỷ thế tranh giành quyền lực, đút lót hối lộ, tham ô tư lợi, chạy theo dục lạc hưởng thụ xa xỉ, phung phí tiền của, cuộc sống đua đòi, lao tâm khổ trí, lòng dạ cuồng mê thì càng nhiều cảnh khủng bố. Cảnh sống suy đồi đọa lạc như thế, làm sao mà cứu vãn? Từng nghe rằng: Thắp sáng ngọn đèn chánh pháp tại thế gian, phá trừ bóng tối vô minh.[1] Đó gọi là tán dương đạo lý nhất Phật thừa, áp dụng phép tắc đạo đức để ngăn chặn làn sóng tham dục lan tràn khắp bốn phương ở trong nhân gian.[2](Nghĩa là khiến chúng sanh lắng dừng lòng tham dục, sống với tâm thanh tịnh giải thoát). Đó là mới là hành động cứu vớt nhân loại nhiều đời.

 

(7)Đệ nhất nghĩa đế là căn bản của tất cả các pháp môn. Tịnh độ là chỗ quay về của các tông phái, là thắng cảnh vi diệu của sự tham học, tu luyện trước khi thành Phật để cứu độ chúng sanh. Giải thoát sanh tử, tự lợi, lợi tha cũng không ngoài con đường tắt này. Tóm lại mà nói, nhập đệ nhất nghĩa đế, tức là duy tâm Tịnh độ. Bất cứ cảnh Tịnh độ nào cũng không xa rời đệ nhất nghĩa đế. Quán kinh có dạy: “Không liễu rõ đệ nhất nghĩa, không đắc thượng phẩm thượng sanh”. Niệm Phật mà giải ngộ tư tưởng Bát nhã,

 

1.   Câu này nguyên văn chữ Hán là: “Ám thế minh đăng, đồng chiếu u hôn”

2. Câu này diễn đạt ý từ nguyên văn chữ Hán trong bản luận là: “Cuồng đào tứ đật, vô sở y quy ”


 

không dễ dàng trực tiếp nhập vào cảnh giới nhất tâm và đạt đến cảnh giới thượng thừa. Thông đạt đệ nhất nghĩa không, tự mình chân thật niệm Phật. Từ sự tu mà không ngoài lý, trong lý vốn bao gồm sự. Đại sư Liên Trì dạy: “Chấp sự mà tu niệm thì có thể tương ưng, chân thật đạt đến kết quả phẩm vị; chấp lý mà tâm không thông suốt, sẽ lạc vào cái tai họa không tưởng.”Cho nên việc đầu tiên xem trọng sự tu, sau đó từ sự nhập lý, từ ít tăng thành nhiều, từ tạm thời mà đến lâu dài, từ bên ngoài nhập vào nội tâm, nương vào dấu tích mà tìm đến cảnh giới siêu việt, từ hữu niệm mà đạt vô niệm; không lạc vào hữu vi và sự tướng tức đạt đến năng niệm và sở niệm như huyễn hóa vốn không có thật thể. Lấy công phu niệm Phật, thâu hết vạn pháp vào nhất tâm. Đạo lý niệm Phật và tham thiền đều như là giữ chặt cây gậy mà bước đi, đều là thủ pháp lấy vọng dẹp vọng, đều là phương tiện để quy vạn pháp về nhất tâm. Nếu không buông gậy, không biết lìa bỏ cái gọi là phương pháp và không hiểu rõ ngay cái đó chỉ là phương tiện thì chắc chắn xảy ra tình trạng chấp pháp. Cổ đức đã từng cân nhắc rằng: Dựa bờ rào, vịn bờ tường để bước đi cẩn thận![1](Nghĩa bóng là tất yếu dựa vào pháp môn tu,

 

 

1. Câu này nguyên văn chữ Hán là: “Phù ly mạc bích hán”.Đồng nghĩa với câu: “Phù tường mạc bích”. Nghĩa là dựa vào bờ rào hay tường vách mà bước đi cẩn thận, nhưng khi đi đứng vững chãi rồi thì rời bỏ nó mới đi xa hơn được. Nghĩa bóng chính xác trong luận này là xem pháp môn tu đều là phương tiện để đạt đến cứu cánh là chứng ngộ đệ nhất nghĩa đế, thể nhập chân không, trực nhận bản thể các pháp.


 

nhưng nên hiểu đó là phương tiện, mục đích sau cùng là thể chứng đệ nhất nghĩa đế). Cho nên, cần phải có công phu thành thục, nỗ lực tinh tấn, quy về nhất tâm, nhập vào đệ nhất nghĩa không, tức là trở về bản thể chân không. Cái gọi là trở về mà không trở về mới là chân thật trở về. Trở về cố hương, trở về bảo tạng tự tánh, trở về chân lý bình đẳng, trở về bất sanh bất diệt, trở về Tỳ lô tánh hải(Tỳ lô là biến khắp tất cả, cũng gọi là thanh tịnh pháp thân phổ biến khắp mọi cảnh giới), trở về hư không pháp giới. Chính là cắt đứt tận vi tế phiền não vô minh, nhập tận hư không không ngằn mé, rõ ràng vạn pháp đồng hư không; tánh và tướng, nước và sóng đâu phải là hai, bản thể vốn tròn đầy không thêm bớt, xưa nay các pháp vốn như vậy. Nếu không trải qua mùa đông giá lạnh, nào có hoa mai tỏa ngát đất trời.[1](Nghĩa bóng là nếu không thể nghiệm trên sự tướng thế gian thì không có phương tiện thể nhập thật tướng). Khi đã liễu đạt tướng thế gian thì mới liễu ngộ chân như. Tất cả vạn pháp đương thể là đệ nhất nghĩa đế. Ở đây, mười phương chư Phật và Phật A Di Đà không có hai tông chỉ.

 

 

(8) Pháp môn Tịnh độ là giai đoạn tu học từ Giả nhập

 

1.  Hoàng Bách Thiền sư, với tác phẩm “Uyển lăng lục”, nội dung này ở trong bốn câu thơ: “Trần lao quýnh thoát, sự phi thường/ Khẩn bả thằng đầu, tô nhất trường/ Bất kinh nhất phiên, hàn triệt cốt/ Tranh đắc mai hoa, phác tị hương.”


 

Không(Không là đệ nhất nghĩa đế). Đó là quá trình tôi luyện hai yếu tố kết hợp từ bi và trí tuệ, tự giác và giác tha. Khi nghe pháp âm vi diệu, đạt vô sanh pháp nhẫn, thọ giáo mười phương chư Phật. Sau khi thành tựu tất cả công đức, thì từ chân xuất tục, hội nhập Ta bà, phân thân khắp mười phương, dùng thần lực tự tại và từ bi không chướng ngại; với lòng bi mẫn đồng thể biến khắp pháp giới làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Với phương tiện khéo léo, giáo hóa hết thảy chúng sanh xa rời vô minh phiền não, xuất ly biển khổ sanh tử đến bờ giác ngộ và được an lạc chân thật. Hư không vô tận, quốc độ vô tận, chúng sanh vô tận, nghiệp chướng phiền não vô tận, tận kiếp vị lai thực hành đại nguyện từ bi cứu độ chúng sanh cũng vô tận. Trong văn phát nguyện, Đại sư Liên Trì có chép: “Vì bốn ân ba cõi, cho đến khắp pháp giới chúng sanh, mà cầu đạo vô thượng Bồ-đề, chuyên tâm trì niệm vạn đức hồng danh Phật A Di Đà mong được sanh Tịnh độ”. Tức là vì chúng sanh mà cầu vô thượng Bồ-đề, vì đạo giác ngộ mà cầu sanh cõi Tịnh độ an ổn với đủ nhân duyên thù thắng làm trợ đạo. Trên thì cầu giác ngộ, dưới thì hóa độ chung sanh. Nguyện cùng với tất cả chúng sanh trong pháp giới, y theo tối thượng thừa mà phát Bồ-đề tâm. Phát nguyện sanh Tây phương, nhập vào địa vị không thối chuyển, hóa độ vô tận chúng sanh đồng chứng đạo giác ngộ.

 

Chia sẻ: facebooktwittergoogle