Sự tiếp cận của Đạo Phật

Sự tiếp cận của Đạo Phật

Sự tiếp cận của Đạo Phật

 

 TN MInh Tâm biên dịch

 

Nhà sử học và văn sĩ người Anh, H. G. Wells, có viết: “Khi chúng ta nghiên cứu học hỏi từ những nguồn tài liệu Phật giáo Nguyên thủy, chúng ta trực nhận rằng những lời dạy cơ bản nòng cốt của đức Phật Thích Ca thật giản dị, súc tích, rõ ràng và kết hợp sít sao với tư tưởng thời đại. Nền giáo lý đó siêu việt lên trên tất cả những tranh luận để đạt tới thành một trong những hệ thống tư tưởng giáo lý minh triết nhất mà thế giới chưa từng biết đến.”

 

Ngày tôi (tác giả) tham dự buổi dạy Phật học đầu tiên, vừa vào đề tài học, vị giáo sư đã nói ngay: “Đức Phật đã dạy chúng đệ tử thế này, ‘Các ngươi đừng chấp nhận lời dạy của Ta chỉ vì tôn kính Ta, mà hãy phân tích, suy lường với trí tuệ như người thợ kim hoàn phân loại chất vàng bằng cách mài giũa, cắt xén, sàng sẩy và nấu chảy nó…’ Các bạn cũng thế, các bạn là những người thông minh. Các bạn nên lắng nghe và suy nghĩ những gì các bạn sẽ nghe  trong khóa học này. Đừng chấp nhận điều gì một cách mù quáng.”

 

Tôi thoải mái thư thái hẳn ra. Tôi nghĩ: “Ồ, khỏe quá, thật tốt. Không một ai có thể ép buộc tôi phải tin vào cái gì hay khai trừ tôi khỏi lớp học nếu tôi không tin. Tuyệt.”

 

Suốt khóa học, chúng tôi được giáo sư khuyến khích tranh luận góp ý về nhiều đề tài Phật học. Tôi rất hoan nghênh phương pháp giảng dạy này, bởi vì nó phù hợp với khuynh hướng thích phân tích và khám phá những vấn đề từ những góc độ khác nhau của tôi. Đó chính là phương pháp của đạo Phật. Trí thông minh của chúng ta được khuyến khích và tôn trọng. Không có bất cứ một giáo điều nào có thể o ép bắt buộc chúng ta phải tin theo một cách mù quáng cả. Tất nhiên bây giờ chúng ta có thể tự do chọn lựa bất cứ điều gì thích hợp với chúng ta trong nền giáo lý này... và để qua một bên những gì chưa phù hợp cho thời gian sau này mà không cần phải phân tích, đắn đo hay suy tư chọn lựa gì cả.

 

Những lời dạy của Phật giống như một bữa ăn tối tự chọn thật thịnh soạn với rất nhiều món ăn. Chúng ta có thể thích món này và những người khác thì chọn món kia, v.v... Không có ai bắt buộc chúng ta phải ăn hết mọi thứ và chúng ta cũng không phải chọn cái món mà bạn chúng ta hay người khác chọn. Cũng như thế, cái đề tài này, pháp thiền này… trong lời dạy của đức Phật có thể phù hợp với căn cơ trình độ của chúng ta, trong khi phương pháp khác lại thích hợp với bạn chúng ta hơn. Chúng ta nên học và hành trì giáo lý phù hợp với trình độ, khả năng, căn cơ của chính mình ngay trong hiện tại này để phát huy phẩm hạnh bản chất đời sống chúng ta.


 

Bằng cách đó, chúng ta sẽ dần dần đạt tới sự hiểu biết và thẩm thấu toàn vẹn những lời dạy của Ngài mà trước kia khi mới bắt đầu tu học, chúng ta cảm thấy không quan trọng và thật khó hiểu.

 

Phương pháp cởi mở này có thể thực hiện được vì đức Phật đã miêu tả, giải thích kiếp nhân sinh nhiều hệ lụy qua chính kinh nghiệm hành trì của Ngài và làm cách nào để phát triển hoàn thiện phương pháp đó cốt sao để rộng mở tâm hồn và khai sáng trí tuệ. Ngài không cấu tạo ra hiện trạng của con người; Ngài cũng không bày đặt, bịa ra con đường đi đến giác ngộ, giải thoát khổ đau. Ngài đã giảng giải kinh nghiệm hành trì để đạt tới giác ngộ, đã chứng minh biện luận thật thiện xảo về những hoạt động tư tưởng của con người và đã ứng phó hoán chuyển thế nào những vấn nạn đời thường của con người một cách thực tiễn và xác quyết. Sự thực chỉ có thế và đơn giản chỉ có thế!

 

Giải thích và miêu tả về những đau khổ, khó khăn của đời sống con người và nguyên nhân của những khổ đau đó, đức Phật giảng giải luôn phương pháp diệt trừ nguyên nhân của khổ. Ngài cũng dạy về tiềm năng lớn mạnh của con người và làm cách nào để phát huy sức mạnh của tiềm năng đó. Tất cả sẽ tùy thuộc vào chúng ta để xác minh lời dạy của Phật qua hệ thống giáo lý và kinh nghiệm của chính bản thân chúng ta. Bằng cách đó, niềm tin của chúng ta mới thành lập hoàn hảo và ổn định.

 

Đạo Phật không đặt trọng tâm nhiều về đức Phật, thần thánh hóa Ngài như là một con người siêu nhiên hay về những Thánh đệ tử của Ngài, Tăng đoàn hay giáo pháp và những thành quả. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người đã sống cách đây hơn 2.600 năm tại Nepal, trước khi giác ngộ viên mãn, đã từng có một thời Ngài cũng là một người bình thường như chúng ta, cũng băn khoăn khắc khoải với những vấn nạn đời thường và nghi ngờ như chúng ta. Bằng cách thực hành miên mật phương pháp giải thoát giác ngộ tự thân, Ngài đã chiến thắng vọng tâm, đoạn tận nguyên nhân gây ra khổ đau và giác ngộ thành Phật, một đấng Tỉnh Thức hoàn toàn viên mãn.

 

Cũng thế, mọi người, mỗi người đều có khả năng đạt tới sự giác ngộ trọn vẹn, từ bi, trí tuệ và thiện xảo. Khoảng cách giữa Phật và chúng ta không phải là khác biệt, không vói tới được, không thực thi được… bởi vì chúng ta có khả năng thành Phật cũng như Ngài. Một khi chúng ta thực hành đúng theo những gì Phật dạy bằng tất cả năng lực trí tuệ, ắt nhiên chúng ta sẽ giác ngộ, giải thoát khỏi khổ đau. Rất nhiều người đã đạt tới được thành tựu đó. Ngay thời Phật còn tại thế, cũng đã có rất nhiều các bậc Thánh đệ tử của Ngài đã chứng đạt cụ thể và lưu dấu lại trong thanh sử Phật giáo.

 

Đức Phật Thích Ca là đức Phật lịch sử trong thế giới loài người. Ngài được quy ngưỡng, tôn kính vì Ngài đã thanh tịnh hóa tận cùng dòng suối vọng tâm đục ngầu tham nhiễm và khai triển viên mãn phẩm hạnh tối thượng. Ngài đã làm và đã thành đạt những gì chúng ta khao khát làm, và giáo pháp của Ngài đã chỉ cho chúng ta con đường vượt lên trên những giới hạn định mức gây chướng ngại bước tiến tâm linh và phát huy toàn bộ khả năng giác ngộ của mình. Phật đã ban tặng cho chúng ta trí tuệ siêu việt của Ngài và tùy vào chúng ta có đón nhận hay không. Phật không đòi hỏi chúng ta phải tin tưởng hay ủng hộ, nhưng cũng không kết án, chỉ trích nếu chúng ta có quan điểm khác Ngài.


 

Đức Phật khuyên chúng ta phải thực tiễn, xác quyết, kiên định tiến tới mục tiêu đã vạch ra mà không bị phân tâm bởi những tranh luận vô ích. Ngài đã dùng một ví dụ rất chính xác là có một người bị tên độc bắn trọng thương. Đáng lý phải nhổ mũi tên đó ra ngay để độc không ngấm vào cơ thể khiến bị tử vong, người đàn ông đó khăng khăng đòi biết danh tính kẻ bắn mình, nghề nghiệp của hắn, tại sao hắn bắn mình, rồi mũi tên đó làm ở đâu, bằng vật liệu gì, v.v. và v.v... thì kẻ ngu xuẩn đó đã chết trước khi được giải đáp hết những câu hỏi ngớ ngẩn đó.

 

Cũng vậy, khi chúng ta bị mắc kẹt vào những vấn đề tâm sinh lý của mình, nếu chúng ta cứ đánh lạc đi bằng những thể hiện tranh luận thông minh vô ích của chúng ta về những đề tài không chính đáng, không thích hợp… thì chúng ta thực sự rất ngu xuẩn, vô minh, vì chính những tranh luận mất thì giờ đó đã khiến chúng ta không thể nào thấy được cái gì quan trọng để làm với cuộc đời mình.

 

Để vượt qua những định mức hạn hẹp và khai phóng nội tâm, có một tiến trình tu tập cơ bản từng bước từng bước mà chúng ta nên và cần học theo. Đầu tiên chúng ta nên học cách lắng nghe và đọc kỹ để tìm hiểu một đề tài. Tiếp theo chúng ta phải biết phản ảnh, tư duy về đề tài đó. Chúng ta sẽ áp dụng một cách có hệ thống và khoa học để phân tích và chiêm nghiệm đề tài đó sao cho nó hiệu ứng với kinh nghiệm đời sống của chúng ta, và những người chung quanh chúng ta. Cuối cùng, chúng ta hợp nhất lại sự hiểu biết mới đó vào trong chúng ta và biến nó trở thành một phần trong con người chúng ta.


 

Tinh hoa giáo pháp đạo Phật thật giản dị, súc tích và có thể áp dụng ngay trong đời sống con người. Chúng ta nên giúp mọi người cùng hiểu biết thực hành giáo pháp đó càng nhiều càng tốt, và nếu không có ai nghe thì chúng ta cũng chẳng buồn phiền trách móc gì họ. Đó là Từ Bi và Trí Tuệ. Đó là tư duy, nhận thức chung, không có gì là huyền bí hay ẩn ý, cũng không phi lý hay có một giáo điều bắt buộc nào. Tất cả những lời dạy của Phật đều rất phù hợp với chúng ta để triển khai tâm từ, trí tuệ và hòa nhập hai đặc tính đó vào đời sống thường nhật của chúng ta khi tiếp nhân đãi vật. Sự nhận thức chung đó không phải để tranh luận bàn cãi thông thái suông mà nó phải ‘sống’ (phải thực thi, phải áp dụng).

 

Giáo lý đạo Phật được mệnh danh là ‘Trung Đạo’ bởi vì nền giáo pháp đó đã khai phóng con người khỏi hai trạng thái cực đoan: khổ hạnh quá mức và phóng túng quá mức. Mục đích của giáo pháp này giúp con người thư thái, an hưởng đời sống một cách minh triết, có ý nghĩa… nhưng không phải là ngủ cho đã mắt, ăn cho sướng miệng, hưởng thụ vật dục, thỏa mãn lòng tham. Chúng ta nên hiểu phải sống minh triết như thế nào để tự giải thoát khỏi những tư tưởng yếm thế, tiêu cực, bi quan… Chúng ta cần phải hiểu thế nào là sống tự tại, không bị ràng buộc, đắm nhiễm, tham chấp và gây khổ đau cho mình, cho người.

 

Khi tu học theo đạo Phật, chúng ta nhận định, học và tự thể nghiệm kết quả của hạnh phúc an lạc qua sự hành trì của bản thân. Chúng ta đã học, đã áp dụng nên chúng ta cũng đã tự chứng thế nào là Chân Hạnh Phúc, một hạnh phúc thực sự trọn vẹn ý nghĩa. Chúng ta cũng nhận thức triệt để những nỗ lực của chính mình đã làm gì để đạt tới kết quả an lạc nội tâm đó. Hạnh phúc hay đau khổ không đến với chúng ta một cách may mắn hay tình cờ, ngẫu nhiên mà cũng không phải để xoa dịu một nhân vật siêu nhiên hay thần linh nào đó. Giống như tất cả vạn vật trong vũ trụ, hạnh phúc phát sinh từ nhiều nguyên nhân đặc biệt. Nếu chúng ta tạo nhân hạnh phúc, kết quả hạnh phúc chắc chắn sẽ đến; ngược lại nếu gây nhân đau khổ thì hậu quả sẽ là khổ đau. Đó là hệ thống tiến trình quy luật Nhân - Quả mà chúng ta sẽ bàn luận ở những chương sau.

 

Đặc tính của đạo Phật là sự giản dị, trong sáng, và tự nguyện. Người nào sở hữu được những tính cách này thì thật là phi thường. Với tính giản dị, chúng ta gạt bỏ được sự đạo đức giả, ích kỷ, và khai phát được tình thương vô điều kiện và lòng từ đó sẽ lớn dần mạnh trong ta. Với tâm hồn trong sáng, chúng ta đoạn được vô minh và thay thế nó bằng cái nhìn, cái biết chân chính, đúng đắn, thực tiễn1. Với lòng tự nguyện tự phát, chúng ta không còn bị chi phối ảnh hưởng bởi những ý nghĩ, cảm quan tùy hứng bốc đồng mà thực hành rất tự nhiên mọi phương cách để mang đến an vui hữu ích cho mọi người, mọi loài trong bất cứ tình huống nào mà chúng ta có thể làm được.

 

Để phát triển tâm từ và trí tuệ, chúng ta càng lúc càng tự bằng lòng hơn với hiện trạng của mình, và càng nhận chân ra cái gì thực sự quan trọng nhất của mình, của người; cho nên thay vì day tay mắm miệng chống trả lại cuộc đời với thái độ bất mãn, bức xúc vì muốn đòi hỏi nhiều thêm, sở hữu nhiều thêm về ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy (tiền tài, sắc đẹp, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghỉ), chúng ta sẽ biết chuyển hóa thái độ, tâm tư của mình để biết sống tri túc, hỷ lạc ở bất cứ hoàn cảnh nào, trạng huống nào và với ai. Chúng ta sẽ hạnh phúc và làm cho đời thêm phần ý nghĩa hơn, tích cực hơn, vui vẻ hơn.

 

Có một số người cho rằng đạo Phật bi quan, tiêu cực và sống xa rời thế tục. Không phải thế đâu, các bạn, mà hoàn toàn ngược lại. Mặc dù chúng ta biết là cần phải tránh xa những nhân duyên khiến chúng ta vướng vào vòng đắm nhiễm uế trược của trần tục, chúng ta cũng không chán ngán, yếu đuối, bi lụy, mất định hướng, mà còn hơn thế nữa, qua sự tư duy nhận định chuẩn xác của trí tuệ, chúng ta càng thông thái, tỉnh thức hơn để giúp mình, giúp người thoát khỏi tà kiến và những nhân duyên xấu ác khiến con người bị mê đắm, chấp thủ và khổ đau. Chúng ta càng quan tâm tới mọi người hơn. Chúng ta càng thiết thực làm nhiều việc hữu ích, tốt đẹp hơn cho mọi người, mọi loài chung quanh chúng ta hơn.

 

Ba cái nồi

 

Đức Phật đã dùng ví dụ ba cái nồi để giải thích làm sao diệt trừ được những chướng ngại khi tu học.

 

Cái nồi thứ nhất là cái nồi bị úp xuống đất. Chẳng có cái gì có thể chứa đựng được bên trong. Đó là ví dụ như chúng ta đang đọc kinh sách nhưng đồng thời lại coi tivi. Chúng ta bị phân tâm đến nỗi không có gì hoặc có rất ít những gì chúng ta đọc được lưu giữ lại trong tâm trí.

 

Cái nồi thứ hai là cái nồi bị lủng lỗ ở đáy. Có thể có cái gì bên trong nhưng nó không cất chứa được vì nó đã bị lủng lỗ. Chúng ta có thể đọc kinh sách đó, nhưng khi có ai hỏi là cái chương sách đó, chương kinh đó nói cái gì... chúng ta chẳng thể nhớ nổi.


 

Cái nồi thứ ba thì dơ bẩn. Ngay cả khi chúng ta rót sữa sạch tươi vào trong nồi, sữa còn đó nhưng đã bị dơ bẩn, không uống được. Ví dụ này cũng giống như chúng ta có thể giữ được những gì chúng ta đọc, nhưng chúng ta chẳng thể hiểu chuẩn xác đích thực được ý nghĩa vì chúng đã bị nhiễm bẩn bởi những tư tưởng, định kiến sai lệch của chúng ta.

 

Thật khó gạt bỏ được qua một bên những định kiến bởi vì có đôi khi chúng ta cũng không nhận rõ được tư tưởng của mình. Một giả thiết nên làm là chúng ta hãy cố gắng suy nghĩ và hiểu từng đề mục theo nội dung của nó, và không lập luận lại theo cái hệ thống tư duy nào mà chúng ta đã học. Bằng cách đó, chúng ta sẽ quán sát tiêu đề đó vô tư hơn với một tâm trí trong sáng tươi mát. Một khi chúng ta đã học hiểu giáo pháp đúng đắn, chuẩn mực, rành mạch theo đúng tinh thần nội dung, ý nghĩa của chân lý, chúng ta sẽ thấy rõ làm sao giáo lý đạo Phật lại khế hợp với tâm lý học, khoa học hay bất cứ một hệ thống triết học, tôn giáo, đạo giáo nào.

 

Quyển sách này không viết bởi một học giả nào, mà chỉ được viết bởi một người muốn chia sẻ suy tư, cảm nhận, kinh nghiệm của mình đến người khác. Chúng ta không những chỉ khai triển những gì Phật dạy mà còn áp dụng thực hành ngay trong đời sống của mình. Chúng ta cũng không cần phải xưng danh là ‘đệ tử Phật’ trên con đường tìm chân lý và hạnh phúc, bởi vì sống hạnh phúc an lạc là quan điểm, mục tiêu chung của chúng sinh. Mọi người, mọi loài đều mong cầu được sống an bình, vui vẻ và đầy đủ.

 

Đó chính là phương pháp của đạo Phật.


 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ: facebooktwittergoogle
Các bài viết khác